Tất cả bài viết của admin

FDI Enterprises Needing Higher Quality

The figures in the V1000 Ranking Table – the list of 1,000 companies with largest corporate tax contributions to the State Budget in Vietnam 2010 – released by the Vietnam Report Company in collaboration with online newspaper VietNamNet proved an increasingly important role of foreign direct investment (FDI) enterprises in Vietnam’s economic growth.
Foreign-led firms made up 31.3 % of the list and rated firms paid more than VND20,000 billion of corporate income tax (over US$1 billion), accounting for about 23.52 % of the total income tax paid by the Top 1000 taxpayers in the three years from 2007 to 2009.
Not only contributing directly to economic development, foreign investors have also forced domestic firms to innovate and adapt to survive and develop in the economy market. The operation and completion of FDI companies are important elements to modernize market economic institutions and accelerate the process of economic restructuring in Vietnam.
 
Incompletely bright picture
However, the picture of FDI companies is not singly bright and more dark points are more revealing. Shortcomings of State management over this business bloc as well as evidences of adverse consequences on socioeconomic development caused by them are appearing at a higher frequency given environmental pollution, energy-consuming technologies, and limited inflows of foreign financial in their investment structures (mainly mobilised from Vietnamese sources). The development of FDI companies is likely to cause shortages of foreign currencies and exchange rate risks in the future.
FDI distribution structure in Vietnam is not rational at present. Catering and accommodation sectors currently attract the most interest of foreign investors, followed by the real estate sector. The amount of FDI capital in the manufacturing sector has declined continuously since 2005 (from 70.4 % in 2005 to 68.9 % in 2006, 51 % in 2007, 36 % in 2008 and 13.6 % in 2009). Moreover, in this field, foreign investors are mainly involved in low value-added assembly activities to take advantage of low-paid labour. Meanwhile, investments for mining and real estate soared. Minor investments for agriculture, forestry and fisheries tend to drop (from about 6 % of total registered capital in 2006 to less than 1 % in 2008). This investment structure is proven insecure for the sustainable socioeconomic development of Vietnam.
 
Unsatisfactory profit and tax payment
Contributions of FDI enterprises to Vietnam’s economy are remarkable. However, their contributions are still very modest in comparison with their large proportion in economic activities in Vietnam. In 2009, FDI enterprises generated 17.5 % of GDP of Vietnam, 43.4 % of industrial production value and 52.7 % of exports.
Paradoxically, although their competitiveness, technological level and governance are proven better than domestic companies, their business efficiency is uneven and relatively low, specifically with respect to profit.
According to the V1000 report, FDI companies came from Asia and Southeast Asia made a majority. Companies from developed East Asian countries like Japan, South Korea and Hong Kong accounted for nearly 50 % share of total corporate income tax paid by FDI taxpayers in the V1000 list. European and US companies contributed 21.64 %. However, many FDI companies are making modest profits, even operating at loss. Thus, their corporate income tax payments are limited.
For example, according to statistics of the Tax Department of Ho Chi Minh City, in 2009, nearly 60 % of FDI enterprises in the city reported business losses (a similar rate as previous years; thus, the global economic crisis cannot be cited as an agent). They used much of natural resources and energy (especially electricity) but their economic efficiency, then contributions to the State Budget, were very limited.
Giving reasons to this problem, some experts underscored transfer pricing and tax avoidance. This is a persistent concern but its bad effects are emerging more clearly. Many FDI enterprises are causing losses in tax revenues of the State by transfer pricing in commercial activities so as to transfer incomes and profits to the homeland. By deliberately sticking much higher values to raw materials, machines and imported inputs from parent companies and selling products back to parent companies at too low prices, FDI companies always make a loss in business activities. They are not only free from corporate income tax payment but also enjoy value-added tax refund.
 
Necessarily defining strategic partners in attracting ad developing FDI enterprises
As Vietnam is approaching the line of a middle-income country, it needs to be more proactive in attracting and selecting investments. The investment promotion strategy should be replaced by investment attraction strategy. Or in other words, Vietnam needs to take initiative and introduce more closely selective criteria to strategic partners and strategic investors. The highest priority is given to investors with highest ability to generate profits and spread technologies and corporate governance. It should not only focus on attracting as many projects as possible as previously while the price for environment, natural resources and the society are too high. It also drops the thinking that foreigners are better, more efficient and more law-conscious.
The selection of strategic partners should probably be based on investment practices of FDI enterprises in Vietnam. Economies with higher proportion of effective operating FDI companies should be treated as strategic partners.
After all, the most important mission of an enterprise is to make a profit and thereby contribute to the society. Thus, apart from policies to restrain transfer pricing, the State and the society need highly appreciate and honour good-performing FDI companies, proven by big profits and contributions to the State Budget of Vietnam.
 
Top 10 FDI companies with biggest corporate income tax contributions
V-1000 Table (www.vietnamtop1000.vn))
1
Prudential Vietnam Life Insurance Co., Ltd
2
Phu My Hung Joint Venture Company
3
Vietnam Beer Co., Ltd
4
HSBC (Vietnam) Bank
5
Vietsovpetro
6
Honda Vietnam Co., Ltd
7
Unilever Vietnam International Co., Ltd
8
Toyota Motor Vietnam Company
9
Citibank – Hanoi Branch
10
Nam Thang Long Urban Development Co., Ltd
Nguồn: http://vccinews.com/news_detail.asp?news_id=21780

CNTT-Truyền thông: Sức bật mới cho kinh tế Việt Nam

Mức tăng trưởng bùng nổ

Trong bảng xếp hạng Top 1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất 2010 mới được công bố (http://vietnamtop1000.vn/), hai doanh nghiệp viễn thông là MobiFone và Viettel đã bất ngờ giành vị trí cao nhất, vượt qua các “đại gia” truyền thống trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, bất động sản và dầu khí.

Việc xếp hạng được tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp trong 03 năm liên tiếp, nên để có được thứ hạng cao trong bảng xếp hạng này, doanh nghiệp phải có mức đóng thuế thu nhập cao liên tục từ năm 2007 đến 2009.

Sự phát triển bùng nổ của lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây đã được khẳng định với mức tăng trưởng của 3 mạng di động lớn là MobiFone, VinaPhone và Viettel.

Nếu năm 2005, doanh thu MobiFone mới chỉ đạt 7000 tỉ,  thì năm 2007, doanh nghiệp này đã đạt mức doanh thu 14.500 tỉ, tăng 40% so với 2006. Đến năm 2009, doanh thu của MobiFone đã đạt hơn 31.000 tỉ, tăng 82% so với năm 2008.

Tương tự, Viettel cũng có mức tăng trưởng hàng năm “siêu khủng”, liên tục ở mức 3 con số. Nếu năm 2005, doanh nghiệp này mới chỉ có doanh thu 3.100 tỉ, thì năm 2006 đã đạt khoảng 7000 tỉ đồng (tăng 125%), năm 2007 đạt 16.300 tỉ (tăng 132%), năm 2008 đạt 33.000 tỉ đồng (tăng 102%), năm 2009 đạt 60.200 tỉ đồng (tăng 94% dù nền kinh tế thế giới vẫn còn bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái).

Lợi thế kinh doanh nhờ dịch vụ thông tin, liên lạc

Để có được mức tăng trưởng bùng nổ này, không thể không nói tới vai trò quản lý và điều tiết của Bộ Thông tin & Truyền thông (TT&TT), và trước đó là Bộ Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Chính nhờ việc mở cửa thị trường, cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ viễn thông đã giúp thị trường viễn thông Việt Nam có sự cạnh tranh thực sự, không còn tình trạng độc quyền như trước, qua đó giúp giá cước được giảm mạnh, kích thích nhu cầu sử dụng của người dân và doanh nghiệp.

Nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông của người dân và doanh nghiệp tại Việt Nam luôn tăng trưởng mạnh nhờ giá cước cạnh tranh, tiếp cận được tới đại đa số người dân với tổng số thuê bao di động đạt 111,4 triệu thuê bao di động vào cuối năm 2009, vượt qua dân số Việt Nam.

Các dịch vụ viễn thông tiếp cận được tới đa số người dân và doanh nghiệp đã gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ kinh doanh khác nhờ khai thác được hiệu quả của việc nắm bắt thông tin kịp thời. Dù cước phí liên tục giảm, chi phí cho hóa đơn điện thoại, Internet ngày càng cao lên, nhưng các chủ thuê bao luôn sẵn sàng trả tiền bởi nhờ các dịch vụ này, mỗi người tận dụng thêm được cơ hội tăng doanh thu cho cá nhân, doanh nghiệp.

Chẳng hạn, ngay từ những năm 2000-2002, báo chí đã đề cập tới sự tiện lợi của điện thoại di động (ĐTDĐ) đã giúp một nhân viên văn phòng có thể kiếm thêm một vài triệu đồng ngoài lương tháng, dù hóa đơn điện thoại tăng thêm một vài trăm ngàn. Còn hiện tại, việc bỏ quên ĐTDĐ ở nhà một ngày đối với một nhân viên kinh doanh có thể là một “thảm họa”, làm tuột mất hàng chục cơ hội làm ăn.

Với mỗi doanh nghiệp tại Việt Nam, việc khai thác thông tin liên lạc và các dịch vụ viễn thông, Internet cũng đã trở thành yếu tố sống còn. Có thông tin kịp thời giúp doanh nghiệp đưa ra quyết định nhanh hơn, tăng khả năng cạnh tranh và cơ hội kinh doanh. Viễn thông, Internet cũng giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận ra thị trường nước ngoài dễ dàng hơn nhờ hệ thống website, cũng như việc cung cấp các sản phẩm cho đối tác quốc tế qua môi trường Internet như dịch vụ gia công phần mềm, thiết kế đồ họa vi tính, chăm sóc khách hàng từ xa…

Tăng trưởng viễn thông tác động trực tiếp đến GDP

Vào tháng 04/2009, tại cuộc tọa đàm về triển vọng 3G tại Việt Nam, Thứ trưởng thường trực Bộ TT&TT Lê Nam Thắng cũng đã đưa ra dẫn chứng về mối liên hệ giữa phát triển viễn thông và tăng trưởng nền kinh tế. Theo đó, các nghiên cứu trên thế giới về viễn thông đã chứng tỏ được rằng ở mỗi quốc gia, mỗi khi dân số sử dụng kết nối Internet băng rộng tăng trưởng thêm 10%, thì sẽ mang lại mức tăng trưởng GDP 0,6%.

Phái viên của Thủ tướng về Công nghệ thông tin, GS.TSKH Đỗ Trung Tá cũng dẫn chứng trong một cuộc đối thoại trực tuyến diễn ra vào đầu năm nay rằng “3G là hệ thống băng rộng nên các dịch vụ được phát triển mạnh, ảnh hưởng gián tiếp tới phát triển kinh tế. Nếu tăng 10% sử dụng 3G thì GDP cũng tăng 11%.”

Những con số nói trên về tác động gián tiếp giữa phát triển viễn thông, CNTT và tăng trưởng kinh tế đều đã được minh chứng trong thực tế tại các quốc gia khác như Singapore, Hong Kong hay Trung Quốc. Khi khai thác hiệu quả các thế mạnh về thông tin liên lạc và truyền thông, các thành phần của nền kinh tế sẽ trở nên năng động hơn rất nhiều, có khả năng phản ứng nhạy bén, kịp thời với mọi biến động, nhờ đó kịp thời nắm bắt những cơ hội kinh doanh, đồng thời giảm bớt những rủi ro có thể gặp phải do thiếu thông tin, công nghệ.

Hướng đi mới cho nền kinh tế Việt Nam

Sự phát triển bùng nổ của lĩnh vực viễn thông và CNTT của Việt Nam trong vài năm trở lại đây cũng cho thấy lĩnh vực này là một hướng đi mới, đầy triển vọng tạo nên sự đột phá để đưa nền kinh tế của Việt Nam vươn ra thế giới. Điển hình như việc Viettel đã mạnh dạn đầu tư dịch vụ viễn thông ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, sang Lào, Campuchia, Haiti và mới đây nhất là Mozambique.

Tại các thị trường quốc tế này, dịch vụ viễn thông của Viettel đều đã gặt hái được thành công rất đáng kể.

Đã đến lúc chúng ta cần gạt sang một bên những mục tiêu có phần “xa vời” như doanh thu xuất khẩu phần mềm đạt 1 tỷ USD/năm, khi con số này hiện đã chỉ còn bằng một nửa doanh thu năm của một mạng di động trong nước. Sự phát triển của các dịch vụ viễn thông, ứng dụng CNTT và Internet vào hoạt động kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp tại Việt  Nam đã chứng tỏ được tiềm năng phát triển mạnh hơn rất nhiều cho nền kinh tế.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ như Singapore, Hong Kong, Đài Loan… đều không phải là cường quốc về gia công phần mềm, nhưng việc ứng dụng CNTT, viễn thông, Internet vẫn luôn chiếm một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Đó là những minh chứng cụ thể cho một triển vọng mới, một hướng đi mới để đưa nền kinh tế Việt Nam vươn ra thế giới.

Nguồn: http://vef.vn/2010/11/24/2010-11-24-cntt-truyen-thong-suc-bat-moi-cho-kinh-te-viet-nam/

Ngân hàng đang “phất”, khu vực sản xuất gặp khó

Các doanh nghiệp trong ngành ngân hàng tài chính xứng đáng là “cỗ máy in tiền” công suất lớn của nền kinh tế trong giai đoạn 2007-2009, khi chiếm tới 25,96%  tổng số lợi nhuận của 1.000 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng V1000.

Tiếp đến là ngành viễn thông (14,01%) và ngành công nghiệp khai khoáng (10,42%). Các ngành khác chiếm tỷ trọng không đáng kể, chủ yếu dưới 10%. Đứng cuối trong top 10 ngành có các DN đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp trong Bảng xếp hạng là ngành Nông lâm nghiệp và Thuỷ sản với tỷ lệ 3,17%.

Thực trạng này cho thấy quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam dường như vẫn còn đứng trước một chặng đường dài để vượt qua khi những doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và chế tạo vẫn chưa thể hiện được vai trò xứng đáng trong trong nền kinh tế, với khả năng tạo lợi nhuận của nhóm ngành này còn khá hạn chế.

Khu vực sản xuất chỉ có nhóm ngành “Sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, phương tiện vận tải” khiêm tốn chiếm vị trí thứ 9 trong Top 10 ngành đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong Bảng Xếp hạng V1000.

Bảng 1: Top 10 ngành đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong Bảng Xếp hạng V1000 (giai đoạn 2007-2009)

Thứ tự

Tên ngành

Tổng số thuế đóng góp (nghìn tỷ đồng)

1

Ngân hàng

18.244

2

Thông tin – Truyền thông

11.819

3

Công nghiệp khai khoáng

8.793

4

Bất động sản

4.336

5

Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh

4.193

6

Xây dựng – Vật liệu xây dựng

3.929

7

Vận tải – Kho bãi

3.787

8

Tài chính – Bảo hiểm

3.662

9

Sản xuất, lắp ráp ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải

2.867

10

Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản

2.671

(Tổng số thuế đóng góp của 1.000 DN trong BXH V1000 giai đoạn 2007 – 2009: 84.375 nghìn tỷ đồng)

Hình 1: Cơ cấu DN đóng thuế lớn nhất BXH V1000 giai đoạn 2007-2009 phân theo ngành
(tính theo giá trị)

Hà Nội và TP.HCM – hai thành phố dẫn đầu

Số liệu thống kê cho thấy, mặc dù số lượng doanh nghiệp lọt vào Bảng xếp hạng V1000 của TP.HCM lớn hơn 1,5 lần số DN của Hà Nội, nhưng số thuế thu nhập doanh nghiệp đóng góp của tổng các DN trong Bảng xếp hạng V1000 của Hà Nội lại lớn hơn một cách tương đối so với các DN của TP.HCM.

Trong tổng số hơn 84 nghìn tỷ của 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp nhiều nhất giai đoạn 2007-2009, các DN ở Hà Nội đóng góp tới 42,8%, trong khi các DN ở TP.HCM đóng góp 34,15% trong tổng số này.

Thực tế Bảng xếp hạng cũng cho thấy, đa số các DN tại Hà Nội trong bảng V1000 đều là các DN lớn, trong đó tập trung đến 4 tập đoàn kinh tế là Điện lực, Than Khoáng sản, Bảo Việt và Dầu Khí. Điều đó cũng phần nào nói lên sự đóng góp đáng kể của các “ông lớn” ở Hà Nội trong việc đóng góp vào ngân sách Nhà nước so với các DN tại TP.HCM.

Mặt khác, cũng do yếu tố địa lý, do đây là các doanh nghiệp tại thủ đô nên ít nhiều cũng có những ưu tiên và lợi thế hơn so với các tỉnh thành khác.

Trong khi đó, tại các tỉnh/thành phố khác, số lượng các doanh nghiệp lọt vào BXH V1000 là không đáng kể, ngoại trừ Đồng Nai và Bình Dương, các tỉnh thành khác có số DN đều trên dưới 20 và lượng đóng thuế thu nhập DN chỉ chiếm không đến 10% tổng số thuế của 1.000 doanh nghiệp.

Như vậy một lần nữa có thế thấy rõ ràng rằng sự phân bổ kinh tế theo vùng miền vẫn chia có sự đồng đều, kinh tế vùng vẫn chưa thực sự phát triển. Thay vì phát triển kinh tế vùng để huy động các nguồn lực trong vùng và khai thác các lợi thế so sánh, các doanh nghiệp lớn vẫn tập trung nhiều tại các tỉnh/thành phố lớn trong cả nước, điển hình là Hà Nội và TP.HCM.

Đồng Nai và Bình Dương là điểm sáng ít ỏi trong số này.

Bảng 2: Top 10 tỉnh/thành phố có các DN nằm trong BXH 1000 DN đóng thuế TNDN nhiều nhất trong giai đoạn 2007-2009:

Thứ tự

Tỉnh/ Thành phố

Số lượng DN

Tổng số thuế đóng góp (nghìn tỷ đồng)

1

Hà Nội

224

36.1161

2

TP.HCM

376

28.8165

3

Đồng Nai

78

2.9901

4

Bình Dương

66

2.9697

5

Bà Rịa – Vũng Tàu

16

1.7973

6

Vĩnh Phúc

11

1.2816

7

Hải Phòng

22

0.8245

8

Khánh Hòa

17

0.6783

9

Quảng Ninh

24

0.6768

10

Cần Thơ

13

0.5851

(Tổng số thuế đóng góp của 1000 DN trong BXH V1000 giai đoạn 2007-2009: 84.375 nghìn tỷ đồng)

Hình 2: Cơ cấu DN đóng thuế lớn nhất trong BXH V1000 giai đoạn 2007-2009 phân theo địa phương
(tính theo giá trị)

Top 5 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong 5 ngành dẫn đầu của Bảng xếp hạng V1000

Ngành công bố

Tên tiếng Việt

Mã số thuế

Ngân hàng

 

 

 

NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

0100112437

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

0100686174

NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

0100111948

NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU

0301452948

NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

0100230800

Thông tin – Truyền thông

CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG (TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG)

0100692594

TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI

0100109106

CÔNG TY CỔ PHẦN FPT

0101248141

CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN THÔNG FPT

0101778163

CÔNG TY THÔNG TIN VIỄN THÔNG ĐIỆN LỰC

0100101033

Công nghiệp khai khoáng TCT KHÍ VIỆT NAM

3500102710

TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM

0100681592

TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN- KHOÁNG SẢN VIỆT NAM

5700100256

XÍ NGHIỆP LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIỆT XÔ

3500102414

TỔNG CÔNG TY THĂM DÒ KHAI THÁC DẦU KHÍ

0100150908

Bất động sản CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH PHÚ MỸ HƯNG

0300604002

CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KHU ĐÔ THỊ NAM THĂNG LONG

0101013679

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI NAM

3700147268

TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN  XÂY DỰNG

3500101107

CÔNG TY CỔ PHẦN VINCOM

0101245486

Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh

CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY BIA VIỆT NAM

0300831132

CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM

0300588569

CÔNG TY TNHH FRIESLANDCAMPINA VIỆT NAM – DUTCH LADY

3700229344

TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT HÀ NỘI

0101376672

CÔNG TY TNHH BIA HUẾ

3300100586

Ghi chú: Đối với các ngành khác, vui lòng xem chi tiết tại website: www.vietnamtop1000.vn

Ngày 22/10/2010, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, TP. Hà Nội, Ban tổ chức Chương trình V1000 gồm: Công ty CP Báo cáo Đánh giá Việt Nam, Báo VietNamNet và Tạp chí Thuế (Tổng cục Thuế) sẽ tổ chức Lễ công bố TOP 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam.

Dự kiến, buổi lễ có sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo của 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cùng các chuyên gia tư vấn kinh tế trong và ngoài nước.

Đây là dịp để tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong ba năm liên tiếp từ năm 2007-2009 cho ngân sách quốc gia. Buổi lễ được Tài trợ vàng bởi Tổng công ty Khí Việt Nam (PVGas) và Tài trợ bạc là Tổng công ty CP Đầu tư Phát triển Xây dựng (DIC Group).

Nguồn: http://vef.vn/2010/10/17/2010-10-17-ngan-hang-dang-phat-khu-vuc-san-xuat-gap-kho/

Thay đổi chiến lược thu hút FDI: Nhìn từ bảng V1000

Các số liệu tại Bảng xếp hạng V1000 – TOP 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam năm 2010 – do Công ty Vietnam Report phối hợp với Báo VietNamNet công bố ngày 23/09 tiếp tục cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Chiếm tới 31,3% tống số doanh nghiệp lọt vào Bảng xếp hạng, khối doanh nghiệp FDI trong V1000 đã đóng góp trên 20.000 tỷ đồng thuế thu nhập, tương đương khoảng 24,38% tổng số thuế thu nhập đóng góp của 1.000 doanh nghiệp đóng thuế lớn nhất Việt Nam trong 3 năm 2007-2009.

Không chỉ đóng góp trực tiếp về kinh tế, chính những nhà đầu tư nước ngoài là tác nhân tạo ra áp lực lớn buộc các công ty trong nước phải đổi mới, phải chuyển mình để có thể lớn mạnh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường.

Sự hoạt động và cạnh tranh của các doanh nghiệp FDI là tác nhân quan trọng để hiện đại hóa thể chế kinh tế thị trường và thúc đẩy quá trình tái cơ cấu kinh tế của Việt Nam.

Tỷ trọng FDI về số lượng DN và đóng góp thuế thu nhập (nguồn Vietnam Report)

Mảng tối ngày càng lộ rõ

Tuy nhiên, bức tranh doanh nghiệp FDI không chỉ có gam màu sáng, mà một số mảng màu tối ngày càng bộc lộ rõ. Những bất cập trong việc quản lý các doanh nghiệp có vốn FDI cũng như những bằng chứng về những hậu quả xấu của chúng đối với phát triển kinh tế – xã hội xuất hiện với mật độ nhiều hơn, như gây ô nhiễm môi trường, công nghệ tiêu tốn nhiêu năng lượng, nguồn vốn đưa ra từ nước ngoài vào Việt Nam là rất hạn chế, mà chủ yếu là lợi dụng nguồn vốn ở trong Việt Nam. Sự phát triển thiên về số lượng của doanh nghiệp FDI có nguy cơ gây thiếu hụt ngoại tệ và rủi ro tỷ giá trong tương lai.

Cơ cấu phân bổ vốn FDI vào Việt Nam hiện nay còn chưa hợp lý. Hiện tại, lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư vốn FDI nhất, đứng thứ 2 là lĩnh vực bất động sản.

FDI trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đã bị giảm liên tục từ năm 2005 (70,4% năm 2005 xuống 68,9% năm 2006, 51% năm 2007, 36% năm 2008 và còn 13,6% năm 2009).

Không những thế, trong lĩnh vực này, vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào công nghiệp lắp ráp nhằm tận dụng lao động rẻ, có giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, đầu tư vào khai thác tài nguyên và bất động sản tăng lên. Đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vốn dĩ đã ít lại đang có xu hướng giảm (năm 2006 chiếm khoảng 6% tổng vốn đăng ký, nhưng đến tháng 11/2008 chưa đạt tới 1%).

Xét về tỷ trọng 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập nhiều nhất trong 03 năm 2007-2009, nhóm các doanh nghiệp FDI đến từ khu vực châu Á và khu vực Đông Nam Á là nhóm doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Các doanh nghiệp đến từ khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan chiếm đến gần 50% tỷ trọng tổng thuế thu nhập mà các doanh nghiệp trong Bảng xếp hạng V1000. Tiếp theo, các doanh nghiệp đến từ châu Âu và Hoa Kỳ cũng chiếm tỷ lệ cao trong đóng góp thuế thu nhập (21,64%).

Tuy nhiên, các doanh nghiệp của một số nền kinh tế khác đang có lợi nhuận không lớn, thậm chí thua lỗ, và do vậy đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp còn hạn chế.

Chẳng hạn, theo số liệu thống kê của Chi cục Thuế TP.HCM về kết quả kinh doanh năm 2009 của doanh nghiệp FDI trên địa bàn, gần 60% số doanh nghiệp báo cáo thua lỗ (một kết quả không phải là bất thường so với những năm trước nên không thể đổ lỗi cho hậu quả của khủng khoảng kinh tế thế giới).

Sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, năng lượng (đặc biệt là điện năng), nhưng hiệu quả kinh tế và qua đó là đóng góp cho ngân sách một bộ phận doanh nghiệp FDI là rất hạn chế.

Để giải thích cho vấn đề này, có thể nêu ra một nguyên nhân là vấn đề chuyển giá và tránh thuế. Đây là một lo ngại đã có từ lâu nhưng dường như đang bộ lộ rõ hơn trong hoạt động của khu vực FDI.

Nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang gây thất thoát về nguồn thu thuế của Nhà nước qua hiện tượng chuyển giá trong hoạt động thương mại giữa nội bộ công ty nhằm chuyển thu nhập và lợi nhuận về nước. Bằng việc định giá quá cao các nguyên liệu, máy móc nhập khẩu đầu vào từ công ty mẹ, trong khi lại bán hàng hóa sản xuất ra cho công ty mẹ với giá quá thấp, nên các doanh nghiệp này luôn ở tình trạng “thua lỗ”, không những không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà còn được hoàn thuế giá trị gia tăng.

Tỷ trọng đóng góp của DN FDI vào NSNN (nguồn Vietnam Report)

Cần xác định lại tiêu chí thu hút FDI

Trong bối cảnh đó, cần có sự thay đổi toàn diện về chiến lược thu hút và phát triển doanh nghiệp FDI. Khi tiệm cận dần tới ngưỡng là nước có thu nhập trung bình, Việt Nam có lẽ cần có sự chủ động cao hơn trong việc thu hút và lựa chọn đầu tư. Chiến lược xúc tiến đầu tư (promotion) cần được thay bằng chiến lược hấp dẫn đầu tư (attraction). Tức là, Việt Nam cần chủ động và có tiêu chí lựa chọn kỹ càng hơn các đối tác chiến lược và các nhà đầu tư chiến lược.

Ưu tiên cao nhất là khả năng tạo lợi nhuận và sự lan truyền về công nghệ và quản lý của các nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng. Tránh việc thu hút FDI tập trung vào số lượng, nhấn mạnh vào đóng góp về lượng của FDI, với cái giá phải trả khá lớn về môi trường, tài nguyên và xã hội. Không phải cứ doanh nghiệp nước ngoài là tốt hơn, là hiệu quả cao hơn và tuân thủ tốt hơn luật pháp Việt Nam.

Việc lựa chọn đối tác chiến lược có lẽ cần căn cứ vào thực tiễn đầu tư của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam. Những nền kinh tế có các nhà đầu tư FDI kinh doanh hiệu quả tại Việt Nam, đóng góp nhiều thuế thu nhập tại Việt Nam cần được coi là các đối tác chiến lược trong công tác hút đầu tư của Việt Nam.

Xét cho cùng, sự mệnh quan trọng nhất của doanh nghiệp chính là tạo lợi nhuận và qua đó đóng góp cho xã hội.

Chính vì vậy, bên cạnh việc có các chính sách kiểm soát hoạt động chuyển giá, Nhà nước và xã hội cần đánh giá cao và có biện pháp tôn vinh đúng mức các doanh nghiệp FDI làm ăn nghiêm túc, đạt lợi nhuận cao và đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước của Việt Nam.

Top 10 doanh nghiệp FDI đóng thuế nhiều nhất Bảng Xếp hạng V-1000 (www.vietnamtop1000.vn)

1

CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM

2

CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH PHÚ MỸ HƯNG

3

CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY BIA VIỆT NAM

4

NGÂN HÀNG TNHH MỘT THÀNH VIÊN HSBC (VIỆT NAM)

5

XÍ NGHIỆP LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIỆT XÔ

6

CÔNG TY HONDA VIETNAM

7

CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ UNILEVER VIỆT NAM

8

CÔNG TY ÔTÔ TOYOTA VIỆT NAM

9

NGÂN HÀNG CITIBANK – CHI NHÁNH HÀ NỘI

10

CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KHU ĐÔ THỊ NAM THĂNG LONG

Nguồn: http://vef.vn/2010/09/29/2010-09-29-thay-doi-chien-luoc-thu-hut-fdi-nhin-tu-bang-v1000/

Những doanh nghiệp nào nộp thuế nhiều nhất năm 2011?

(DĐDN) Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với báo VietNamNet và Tạp chí Thuế – Tổng cục Thuế vừa chính thức công bố bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam năm 2011 (V1000).

(DĐDN) Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) phối hợp với báo VietNamNet và Tạp chí Thuế – Tổng cục Thuế vừa chính thức công bố bảng xếp hạng 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam năm 2011 (V1000). Theo đó, đứng đầu bảng là Tập đoàn Công nghiệp bưu chính viễn thông VN, tiếp theo là Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí, Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro, Tập đoàn Dầu khí VN, Viettel… Cũng theo bảng xếp hạng này, 100 doanh nghiệp đóng góp nhiều thuế nhất trong bảng V1000 chiếm tới 72,42% lượng thuế thu được từ 1000 doanh nghiệp trong bảng. Và Top 200 doanh nghiệp đầu tiên chiếm tới 81,86% tổng lượng thuế trong bảng xếp hạng. Trong top 10 doanh nghiệp đóng thuế nhiều nhất năm 2011 đều thuộc về các doanh nghiệp Nhà nước, với phần đóng góp thuế tăng gấp đôi, từ 25.772 tỷ đồng năm 2010 lên đến 64.847 tỷ.

Có khoảng 16,3% doanh nghiệp mới xuất hiện trong bảng xếp hạng năm 2011. Trong số các doanh nghiệp mới này, chủ yếu là các DN thuộc khối Nhà nước và tư nhân, chiếm tỷ lệ lần lượt là 42,9% và 31,3%. Số doanh nghiệp mới thuộc khu vực FDI chiếm khoảng 25,8%.

V1000 năm nay cũng đánh dấu sự bứt phá mạnh mẽ của các doanh nghiệp FDI, khi phần thuế đóng góp của khối này tăng gần gấp đôi, lên gần 40.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ trọng của khối tư nhân giảm nhẹ từ 20.62% xuống 17.80%, cho thấy các doanh nghiệp tư nhân dễ bị tổn thương khi môi trường kinh doanh thay đổi.

Nguồn: http://enternews.vn/nhung-doanh-nghiep-nao-nop-thue-nhieu-nhat-nam-2011-51805.html

Vinh danh 1.000 DN nộp thuế thu nhập lớn nhất VN

Lễ công bố 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam vừa diễn ra tại Hà Nội nhằm tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và có giá trị đóng góp thuế lớn nhất.

Các doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất cả nước lần đầu tiên được vinh danh

Các doanh nghiệp được vinh danh lần này, ngoài các thành tích về hiệu quả kinh doanh và ý thức chấp hành pháp luật tốt thì còn phải mức đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất trong ba năm liên tiếp từ năm 2007 – 2009 cho ngân sách quốc gia.

Đến với buổi lễ, các doanh nghiệp còn có cơ hội giao lưu, trao đổi với nhau về cách thức kinh doanh, cơ hội hợp tác, đồng thời đóng góp những ý kiến thiết thực từ góc độ của doanh nghiệp về công tác thu và quản lý Ngân sách với Lãnh đạo các cơ quan quản lý Nhà nước.

Thứ trưởng Bộ TT-TT Trần Đức Lai phát biểu mở đầu lễ công bố Bảng xếp hạng V1000 (ảnh L.A.Dũng)

Bảng Xếp hạng Top 1.000 Doanh nghiệp nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng và đã thu hút sự quan tâm trong cộng đồng doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam.

Đây là năm đầu tiên Bảng xếp hạng V1000 được công bố để ghi nhận và tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và đóng góp thuế thu nhập lớn cho Ngân sách quốc gia Việt Nam.

Bảng Xếp hạng V1000 dựa trên kết quả xử lý và kiểm chứng dữ liệu độc lập của Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), với sự phối hợp của Tạp chí Thuế (Tổng Cục Thuế) cùng Hội đồng chuyên gia cố vấn của VNR500 là các chuyên gia tư vấn độc lập trong và ngoài nước.

Lọt vào Bảng xếp hạng V1000 là cách tôn vinh các DN phát triển, đóng góp cho ngân sách quốc gia (ảnh L.A.D)

Bảng Xếp hạng tuân thủ nguyên tắc khách quan, độc lập, khoa học và phù hợp với chuẩn mực của các bảng xếp hạng tương tự trên thế giới. Việc xếp hạng doanh nghiệp được tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp trong 03 năm tài khóa (2007 – 2009).

Các doanh nghiệp được xếp hạng phải chấp hành tốt luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế tại các tỉnh/thành phố trung ương và địa phương quản lý; không có hành vi trốn thuế và không thuộc đối tượng được xử lý, xóa nợ.

Qua bảng xếp hạng V1000, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng: các doanh nghiệp nhà nước lớn, chủ yếu là các Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước, vẫn là những doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam, chiếm đại đa số Top 10 doanh nghiệp đứng đầu Bảng Xếp hạng V1000.

Về cơ cấu ngành nghề, ngành viễn thông có tổng lợi nhuận rất lớn so với các ngành kinh tế khác trong 3 năm qua. Sát theo đó, 3 ngành nổi bật chiếm tỷ trọng lớn nộp vào Ngân sách Nhà nước trong Bảng Xếp hạng V1000 là các ngành Xây dựng – vật liệu xây dựng, Bất động sản, Ngân hàng.

Một điểm nữa, chiếm thứ hạng cao và áp đảo trong Bảng xếp hạng là các doanh nghiệp thuộc hai thành phố đầu tàu của cả nước là Hà Nội và TP.HCM với tỷ trọng lần lượt là 22,5% và 37,6%.

Hai tỉnh phía Nam là Đồng Nai và Bình Dương cũng có nhiều doanh nghiệp lọt vào Bảng Xếp hạng V1000, tương ứng là 7,8% và 6,6%. Các tỉnh có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn hầu như không có doanh nghiệp lọt vào Bảng Xếp hạng V1000.

Theo nhóm nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang có tính tập trung khá cao và phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp lớn. Cụ thể là 200 doanh nghiệp đứng đầu trong Bảng Xếp hạng V1000 đóng góp tới 80% lượng thuế thu được từ 1000 doanh nghiệp trong Bảng.

Cuối cùng, chỉ riêng với con số thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp trong Bảng Xếp hạng V1000, các doanh nghiệp đã đóng góp trung bình mỗi năm tới khoảng hơn 7% trong tổng thu Ngân sách nhà nước, mặc dù con số 1.000 doanh nghiệp chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số hơn 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động.

Danh sách 1000 doanh nghiệp trong bảng xếp hạng V1000:

1 1 CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG 0100686209 Thông tin – Truyền thông
2 2 TẬP ĐOÀN VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI 0100109106 Thông tin – Truyền thông
3 3 TCT KHÍ VIỆT NAM – CÔNG TY TNHH MTV 3500102710 Công nghiệp khai khoáng
4 4 NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 0100112437 Ngân hàng
5 5 TẬP ĐOÀN DẦU KHÍ VIỆT NAM 0100681592 Công nghiệp khai khoáng
6 6 TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN- KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 5700100256 Công nghiệp khai khoáng
7 7 NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 0100686174 Ngân hàng
8 8 NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 0100111948 Ngân hàng
9 9 CÔNG TY TNHH BẢO HIỂM NHÂN THỌ PRUDENTIAL VIỆT NAM 0301840443 Tài chính – Bảo hiểm
10 10 CÔNG TY TNHH LIÊN DOANH PHÚ MỸ HƯNG 0300604002 Bất động sản
11 11 CÔNG TY TNHH NHÀ MÁY BIA VIỆT NAM 0300831132 Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh
12 12 TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 0100100079 Các ngành khác
13 13 NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU 0301452948 Ngân hàng
14 14 NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 0100230800 Ngân hàng
15 15 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 0100150619 Ngân hàng
16 16 NGÂN HÀNG TNHH MTV HSBC (VIỆT NAM) 0301232798 Ngân hàng
17 17 NGÂN HÀNG TMCP XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 0301179079 Ngân hàng
18 18 TỔNG CÔNG TY CẢNG HÀNG KHÔNG MIỀN NAM 0301081852 Vận tải – Kho bãi
19 19 XÍ NGHIỆP LIÊN DOANH DẦU KHÍ VIỆT XÔ 3500102414 Công nghiệp khai khoáng
20 20 NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN 0301103908 Ngân hàng
21 21 CÔNG TY HONDA VIETNAM 2500150543 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
22 22 CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ UNILEVER VIỆT NAM 0300762150 Sản xuất hóa chất, cao su, hóa mỹ phẩm
23 23 TỔNG CÔNG TY HÀNG KHÔNG VIỆT NAM 0100107518 Vận tải – Kho bãi
24 24 CÔNG TY CAO SU DẦU TIẾNG 3700146377 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
25 25 CÔNG TY Ô TÔ TOYOTA VIỆT NAM 2500150335 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
26 26 NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 0100283873 Tài chính – Bảo hiểm
27 27 NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN 0301437033 Ngân hàng
28 28 NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG Á 0301442379 Ngân hàng
29 29 CÔNG TY TNHH MTV TỔNG CÔNG TY CAO SU ĐỒNG NAI 3600259465 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
30 30 NGÂN HÀNG CITIBANK CHI NHÁNH HÀ NỘI 0100112444 Ngân hàng
31 31 CÔNG TY CỔ PHẦN SỮA VIỆT NAM 0300588569 Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh
32 32 CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN KHU ĐÔ THỊ NAM THĂNG LONG 0101013679 Bất động sản
33 33 CÔNG TY XI MĂNG HOÀNG THẠCH 0800004797 Xây dựng – Vật liệu xây dựng
34 34 TỔNG CÔNG TY LƯƠNG THỰC MIỀN BẮC 0100102608 Bán buôn
35 35 CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN SÀI GÒN 0301955155 Tài chính – Bảo hiểm
36 36 TỔNG CÔNG TY THUỐC LÁ VIỆT NAM 0101216069 Bán buôn
37 37 NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM 0200124891 Ngân hàng
38 38 CÔNG TY TNHH FRIESLANDCAMPINA VIỆT NAM – DUTCH LADY 3700229344 Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh
39 39 CÔNG TY XỔ SỐ KIẾN THIẾT TP.HỒ CHÍ MINH 0300507182 Các ngành khác
40 40 CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY KHÍ VIỆT NAM – CÔNG TY TNHH MTV – CÔNG TY ĐƯỜNG ỐNG KHÍ NAM CÔN SƠN 3500410112001 Vận tải – Kho bãi
41 41 TẬP ĐOÀN HOÁ CHẤT VIỆT NAM 0100100061 Bán buôn
42 42 TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BIA – RƯỢU – NƯỚC GIẢI KHÁT HÀ NỘI 0101376672 Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh
43 43 CÔNG TY TNHH MTV CAO SU BÌNH LONG 3800100168 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
44 44 NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á 0200253985 Ngân hàng
45 45 CÔNG TY TNHH ĐIỆN TỬ SAMSUNG VINA 0300741922 Điện tử – Điện máy – Thiết bị vi tính
46 46 NGÂN HÀNG THE BANK OF TOKYO – MITSUBISHI UFJ.,LTD- CN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 0301224067 Ngân hàng
47 47 NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM 0100233488 Ngân hàng
48 48 NGÂN HÀNG TMCP NHÀ HÀ NỘI 0100283721 Ngân hàng
49 49 TCT DU LỊCH SÀI GÒN 0300625210 Du lịch – Khách sạn – Ăn uống
50 50 CÔNG TY CỔ PHẦN FPT 0101248141 Thông tin – Truyền thông
# Xếp hạng Tên công ty Mã số thuế Ngành công bố
51 51 CÔNG TY TNHH MTV CAO SU PHÚ RIỀNG 3800100062 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
52 52 CÔNG TY CP CHĂN NUÔI C.P VIỆT NAM 3600224423 Các ngành khác
53 53 CÔNG TY TNHH MAERSK VIỆT NAM 0303728327 Vận tải – Kho bãi
54 54 CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU PHƯỚC HÒA 3700147532 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
55 55 CÔNG TY XỔ SỐ KIẾN THIẾT THÀNH PHỐ CẦN THƠ 1800157562 Các ngành khác
56 56 CÔNG TY TNHH MTV XỔ SỐ KIẾN THIẾT BÌNH DƯƠNG 3700149547 Các ngành khác
57 57 CÔNG TY TNHH MTV XỔ SỐ KIẾN THIẾT TIỀN GIANG 1200100236 Các ngành khác
58 58 CÔNG TY XỔ SỐ KIẾN THIẾT VĨNH LONG 1500171982 Các ngành khác
59 59 TỔNG CÔNG TY CÔNG NGHIỆP SÀI GÒN 0300713668 Các ngành khác
60 60 NGÂN HÀNG TM CỔ PHẦN CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH VN 0100233583 Ngân hàng
61 61 TỔNG CÔNG TY CẢNG HÀNG KHÔNG MIỀN BẮC 0100108977 Vận tải – Kho bãi
62 62 CÔNG TY TNHH MTV PHÂN ĐẠM VÀ HOÁ CHẤT HÀ BẮC 2400120344 Sản xuất hóa chất, cao su, hóa mỹ phẩm
63 63 NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG 0300610408 Ngân hàng
64 64 TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC 0101992921 Tài chính – Bảo hiểm
65 65 TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VÀ XÂY DỰNG VIỆT NAM 0100105616 Xây dựng – Vật liệu xây dựng
66 66 CÔNG TY LIÊN DOANH KHÁCH SẠN SAIGON INN 0301217334 Du lịch – Khách sạn – Ăn uống
67 67 TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN NAM TNHH 0300942001 Các ngành khác
68 68 CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ HÀNG HÓA TÂN SƠN NHẤT 0301215249 Vận tải – Kho bãi
69 69 CÔNG TY TNHH MTV XỔ SỐ KIẾN THIẾT BẾN TRE 1300107549 Các ngành khác
70 70 CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MTV XỔ SỐ KIẾN THIẾT TÂY NINH 3900244438 Các ngành khác
71 71 CÔNG TY HH CHẾ TẠO CN & GC CHẾ BIẾN HÀNG XK VN (VMEP) 0100113864 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
72 72 CÔNG TY TNHH YAMAHA MOTOR VIỆT NAM 0100774342 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
73 73 NGÂN HÀNG TMCP AN BÌNH 0301412222 Ngân hàng
74 74 TẬP ĐOÀN PHÁT TRIỂN NHÀ VÀ ĐÔ THỊ 0100106144 Xây dựng – Vật liệu xây dựng
75 75 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẠI NAM 3700147268 Bất động sản
76 76 CÔNG TY TNHH BIA HUẾ 3300100586 Thực phẩm – Đồ uống – Tiêu dùng nhanh
77 77 TẬP ĐOÀN BẢO VIỆT 0100111761 Tài chính – Bảo hiểm
78 78 DEUTSCHE BANK AG HOCHIMINH CITY BRANCH 0301239352 Ngân hàng
79 79 CÔNG TY TNHH MTV THƯƠNG MẠI SABECO 0303140574 Bán buôn
80 80 CÔNG TY XỔ SỐ KIẾN THIẾT AN GIANG 1600190393 Các ngành khác
81 81 TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP CAO SU VIỆT NAM 0301266564 Bán buôn
82 82 TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT 0101527385 Tài chính – Bảo hiểm
83 83 TCT PHÂN BÓN VÀ HOÁ CHẤT DẦU KHÍ – CÔNG TY CỔ PHẦN 0303165480 Sản xuất hóa chất, cao su, hóa mỹ phẩm
84 84 TCT LƯƠNG THỰC MIỀN NAM 0300613198 Bán buôn
85 85 CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN ACB 0302030508 Tài chính – Bảo hiểm
86 86 CÔNG TY TNHH ĐIỆN STANLEY VIỆT NAM 0100114515 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
87 87 CÔNG TY TNHH MTV CAO SU LỘC NINH 3800100270 Nông lâm nghiệp – Thủy hải sản
88 88 CÔNG TY TNHH 01TV XỔ SỐ KIẾN THIẾT TỈNH ĐỒNG THÁP 1400103996 Các ngành khác
89 89 CÔNG TY ÔTÔ VIỆT NAM -DAEWOO 0100114191 Ô tô – Xe máy – Phương tiện vận tải
90 90 CÔNG TY CỔ PHẦN PHÂN PHỐI KHÍ THẤP ÁP DẦU KHÍ VIỆT NAM 0304998686 Kinh doanh xăng dầu, khí hóa lỏng, vật tư…
91 91 NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI 1800278630 Ngân hàng
92 92 CÔNG TY TNHH 01 TV XỔ SỐ KIẾN THIẾT LONG AN 1100105784 Các ngành khác
93 93 AUTRALIA AND NEW ZEALAND BANKING GROUP LIMITED (ANZ) 0100112885 Ngân hàng
94 94 LIÊN HIỆP HTX THƯƠNG MẠI TP. HỒ CHÍ MINH 0301175691 Kinh doanh bán lẻ – Siêu thị
95 95 TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP – TNHH MTV 3700145020 Xây dựng – Vật liệu xây dựng
96 96 NGÂN HÀNG TMCP PHƯƠNG ĐÔNG 0300852005 Ngân hàng
97 97 MEGA INTERNATIONAL COMMERCIAL BANK CO.,LTD HỒ CHÍ MINH CITY BRANCH 0301470104 Ngân hàng
98 98 TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN XÂY DỰNG 3500101107 Bất động sản
99 99 NGÂN HÀNG TNHH INDOVINA 0300733752 Ngân hàng
100 100 TỔNG CÔNG TY XĂNG DẦU VIỆT NAM 0100107370 Kinh doanh xăng dầu, khí hóa lỏng, vật tư…

Nguồn: http://www.doanhnhansaigon.vn/thoi-su-trong-nuoc/vinh-danh-1-000-dn-nop-thue-thu-nhap-lon-nhat-vn/1048539/

Top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam

Hôm nay 23/9, Vietnam Report công bố bảng xếp hạng V1000 – Top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam. Theo đó, các Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước vẫn là những doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất.

Viễn thông nằm trong nhóm có tổng lợi nhuận rất lớn so với những ngành kinh tế khác.

Đây là năm đầu tiên Bảng xếp hạng V1000 được công bố để ghi nhận và tôn vinh các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh tốt, tuân thủ luật pháp, chính sách về thuế và đóng góp thuế thu nhập lớn cho Ngân sách quốc gia Việt Nam.

Bảng Xếp hạng V1000 dựa trên kết quả xử lý và kiểm chứng dữ liệu độc lập của Công ty cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report), với sự phối hợp của Tạp chí Thuế (Tổng Cục Thuế) cùng Hội đồng chuyên gia cố vấn của VNR500 là các chuyên gia tư vấn độc lập trong và ngoài nước.

Bảng Xếp hạng tuân thủ nguyên tắc khách quan, độc lập, khoa học và phù hợp với chuẩn mực của các bảng xếp hạng tương tự trên thế giới. Việc xếp hạng doanh nghiệp được tính trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp trong 03 năm tài khóa (2007 – 2009).

Các doanh nghiệp được xếp hạng phải chấp hành tốt luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế tại các tỉnh/thành phố trung ương và địa phương quản lý; không có hành vi trốn thuế và không thuộc đối tượng được xử lý, xóa nợ.

Qua bảng xếp hạng V1000, nhóm nghiên cứu chỉ ra rằng: các doanh nghiệp nhà nước lớn, chủ yếu là các Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước, vẫn là những doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp lớn nhất tại Việt Nam, chiếm đại đa số Top 10 doanh nghiệp đứng đầu Bảng Xếp hạng V1000.

Về cơ cấu ngành nghề, ngành viễn thông có tổng lợi nhuận rất lớn so với các ngành kinh tế khác trong 3 năm qua. Sát theo đó, 3 ngành nổi bật chiếm tỷ trọng lớn nộp vào Ngân sách Nhà nước trong Bảng Xếp hạng V1000 là các ngành Xây dựng – vật liệu xây dựng, Bất động sản, Ngân hàng.

Một điểm nữa, chiếm thứ hạng cao và áp đảo trong Bảng xếp hạng là các doanh nghiệp thuộc hai thành phố đầu tàu của cả nước là Hà Nội và TPHCM với tỷ trọng lần lượt là 22,5% và 37,6%.

Hai tỉnh phía Nam là Đồng Nai và Bình Dương cũng có nhiều doanh nghiệp lọt vào Bảng Xếp hạng V1000, tương ứng là 7,8% và 6,6%. Các tỉnh có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn hầu như không có doanh nghiệp lọt vào Bảng Xếp hạng V1000.

Theo nhóm nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang có tính tập trung khá cao và phụ thuộc nhiều vào các doanh nghiệp lớn. Cụ thể là 200 doanh nghiệp đứng đầu trong Bảng Xếp hạng V1000 đóng góp tới 80% lượng thuế thu được từ 1000 doanh nghiệp trong Bảng.

Cuối cùng, chỉ riêng với con số thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp trong Bảng Xếp hạng V1000, các doanh nghiệp đã đóng góp trung bình mỗi năm tới khoảng hơn 7% trong tổng thu Ngân sách nhà nước, mặc dù con số 1.000 doanh nghiệp chỉ chiếm một số lượng rất nhỏ trong tổng số hơn 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động.

Thông tin chi tiết về Bảng Xếp hạng V1000 được đăng tại website: http://vietnamtop1000.vn

Top 5 doanh nghiệp dẫn đầu đóng thuế thu nhập

1/ Công ty Thông tin di động

2/ Tập đoàn Viễn thông quân đội

3/ Tổng Công ty Khí Việt Nam – Công ty TNHH MTV

4/ Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

5/ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

Nguồn: http://dantri.com.vn/kinh-doanh/top-1000-doanh-nghiep-dong-thue-thu-nhap-lon-nhat-viet-nam-1285445634.htm